BBT mong nhận được sự trợ giúp của bạn đọc. Liên hệ số điện thoại 0912 414 848. Email: bslyhoa@gmail.com. Tài khoản: HỒ VĂN THUÂN. Số TK: 3801205203209. Ngân hàng Agribank Bố Trạch, Quảng Bình.


Wednesday, December 21, 2016

Hoàng Sâm vị tướng huyền thoại

Thiếu tướng Hoàng  Sâm sinh năm 1915 ở làng Lệ Sơn, xã Văn Hoá, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.  Hoàng  Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ, là hậu duệ của Hiệp biện Đại học sĩ Trần Cảnh Huống và danh tướng Trần Nguyên Hãn.
Năm 12 tuổi, Trần Văn Kỳ theo cha mẹ rời quê hương sang Thái Lan, trong dòng người ly hương sang các nước lân cận thời bấy giờ. Thời gian đầu gia đình ông ở Na Khon, sau về Chiang Mai, Thái Lan.

Trần Văn Kỳ tham gia cách mạng, năm 1933, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trần Văn Kỳ bị mật thám Pháp, cảnh sát Thái Lan truy bắt và trục xuất khỏi Thái Lan. Trần Văn Kỳ tìm đường sang Quảng Tây, Trung Quốc, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng Việt Nam. Năm 1937, Trần Văn Kỳ được phái về nước hoạt động và  bị chính quyền Pháp bắt giam ở Cao Bằng. Năm 1938, ra tù, Trần Văn Kỳ vượt biên sang Trung Quốc, tham gia đội du kích kháng Nhật của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoạt động dọc biên giới Việt-Trung. Giữa năm 1940, Trần Văn Kỳ được cử sang Tĩnh Tây học quân sự ở trường Trương Bội Công. Tại đây,  Trần Văn Kỳ lấy bí danh là Hoàng Sâm để hoạt động. Sau đó, Hoàng Sâm cùng một số cán bộ khác của Cao Bằng bỏ học ở trường Trương Bội Công trở về nước hoạt động.
Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân năm 1944. 

Tháng 11 năm 1941, đội du kích Cao Bằng được thành lập , gồm 12 người, do Lê Thiết Hùng làm đội trưởng, Lê Quảng Ba làm chính trị viên, Hoàng Sâm làm đội phó. Cuối năm 1943, đội du kích Cao Bằng được phân tán đi xây dựng cơ sở cách mạng ở nhiều địa phương, Hoàng Sâm được giao nhiệm vụ tổ chức đội bảo vệ cho các tổ xung phong Nam tiến.
Hoàng Sâm (trái) tại chiến khu Việt Bắc, năm 1947

Giữa năm 1944, Mặt trận Việt Minh phát triển mạnh ở vùng Cao-Bắc- Lạng, để thống nhất lực lượng, cần thành lập lực lượng vũ trang chủ lực, kết hợp tuyên truyền chính trị và  hoạt động quân sự. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại vùng rừng của hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội có 34 người, do Hoàng Sâm làm đội trưởng. Hoàng Sâm là đội trưởng đầu tiên của Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Hoàng Sâm đã chỉ huy đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tiến đánh các đồn Phai Khắt, Nà Ngần, thu được thắng lợi. Lực lượng của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân phát triển thành một đại đội gồm ba trung đội và Hoàng Sâm được cử làm đại đội trưởng. Thời gian sau, đội phát triển thành tiểu đoàn, Hoàng Sâm trở thành tiểu đoàn trưởng Giải phóng quân.
Để chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Hoàng Sâm đã chỉ huy giải phóng các châu Ngân Sơn, Chợ Rã, phía bắc Bạch Thông và tiến đánh quân Nhật ở Phủ Thông, Bắc Cạn, Thái Nguyên, bảo vệ khu giải phóng Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái. Sau đó Hoàng Sâm đưa quân về Vĩnh Yên trấn áp các phần tử phản động khác.
Sau ngày 2-9-1945, nhiều đơn vị quân đội được đưa lên Tây-Bắc giữ chính quyền cách mang và chặn đánh địch. Những đơn vị quân đội này được gọi chung là "đoàn quân Tây tiến". Năm 1947, Hoàng Sâm được cử chỉ huy "đoàn quân Tây tiến". Sau chiến thắng Sông Lô năm 1947, Hoàng Sâm được cử phụ trách quân sự khu giải phóng 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ngày 1 tháng 1 năm 1948, Hoàng Sâm được phong quân hàm thiếu tướng, lúc đó ông là Khu trưởng Chiến khu II. Hoàng Sâm là 1 trong 10 tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1951, Thiếu tướng Hoàng Sâm được điều làm Phái viên của Bộ Quốc phòng tham gia các chiến dịch lớn cùng với các Đại đoàn 304, 312. Với cương vị  Phái viên của Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã đóng góp nhiều kinh nghiệm chỉ huy chiến dịch rất tốt. Năm 1953-1954 ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, Chỉ huy trưởng Mặt trận Trung Lào.
Chiến dịch Trung Lào từ tháng 12 năm 1953 đến tháng 5 năm 1954, phối hợp giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào  tại khu vực Ma Ha Xay, Nhon Ma Rạt, Thà Khẹt, đường số 9 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông-Xuân năm 1953-1954.
Hoàng Sâm (bên phải) và cụ Bùi Kỷ (UB Liên Việt)  năm 1948.

Thiếu tướng Hoàng Sâm chỉ huy chiến dịch Trung Lào, giải phóng vùng Thà Khẹt, đường số 9 từ biên giới Việt Nam đến sông Mê Kông ở Trung Lào. Thừa thắng, quân của tướng Hoàng Sâm giải phóng tỉnh A Tô Pơ và cao nguyên Bô Lô Ven, phối hợp với Quân giải phóng Căm-Pu-Chia giải phóng hầu hết tỉnh Công Pông Chàm.
Sau Hiệp đinh Giơ-ne-vơ Hoàng Sâm chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông, tiếp quản thành phố Hải Phòng. Từ năm 1955 đến 1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm làm Tư lệnh các Quân khu: Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 3. Giữa năm 1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm là Tư lênh Quân khu Trị Thiên. Thiếu tướng Hoàng Sâm cùng đi chiến dịch với cán bộ, chiến sĩ qua nhiều vùng ác liệt, bị máy bay B52 ném bom, rải thảm ở Hướng Hóa, A Sầu, A Lưới.
Thiếu tướng Hoàng Sâm hy sinh tại chiến trường Trị-Thiên ngày 15 tháng 12 năm 1968, ở tuổi 53. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý của nhà nước. Tên của thiếu tướng Hoàng Sâm được đặt cho một con đường ở quận Cầu Giấy, Hà Nội .

Những mẫu chuyện về vị tướng huyền thoại  
Thu phục tướng phỉ  

Vùng biên giới Việt - Trung những năm trước 1940 có nhiều toán phỉ hoạt động, chúng cướp bóc, giết người, gây nhiều hoảng sợ cho bà con các dân tộc sống dọc biên giới. Người dân khổ cực vì quan Tây, quan Châu và nạn cướp bóc của bọn phỉ. Từ năm 1939, Châu uỷ Hà Quảng phát động người dân lập Hội Chống phỉ với sách lược “kiên quyết trừng trị đi đôi với giáo dục thuyết phục những người nghèo lầm lạc theo phỉ trở về với nhân dân”.
Bọn phỉ rất đông, là toán quân ô hợp, có nhiều súng và hành động rất tàn bạo. Những tên trùm phỉ sống ngang tàng “anh hùng hảo hán” nhưng rất kính nể những người can đảm, tài ba. Những tên trùm phỉ thời đó nổi lên có anh em Voòng A Sáng, Voòng A Sính, Châu Slam Tha (Châu “ba mắt”), Lỳ Síu.
Hoàng Sâm lúc này có tên là Trần Sơn Hùng, nổi tiếng là người gan dạổơ vùng Cao Bằng, “đánh đông dẹp bắc”, bắn súng 2 tay, “bách phát bách trúng”, phi ngựa như kị sĩ, nói tiếng Quảng Đông như người Hoa. Bọn trùm phỉ nghe danhTrần Sơn Hùng rất kiêng dè nhưng lại muốn thử sức, đọ tài. Trùm phỉ Lý Xìu mời Trần Sơn Hùng và Lê Quảng Ba lên Lũng Nặm, nơi sào huyệt của chúng để uống rượu, thi bắn súng, cưỡi ngựa, ném lựu đạn, nhưng không được đem theo quân lính. Hoàng Sâm nhận lời thách đấu. Hai người đến sào huyệt của bọn phỉ. Vừa trông thấy hai ông, Lý Xìu vội cúi đầu chào và nói “Xin mời cán bộ uống rượu đến say rồi thi bắn súng, ném lựu đạn!”. Hoàng Sâm  khoanh 2 tay trước ngực, súng “pặc-khoọc” đeo lệch một bên vai, con dao quắm đi rừng dắt bên hông – ông lững thững bước ra khoảng trồng. Hoàng Sâm đã ngấm hơi men, nâng súng lên, không cần ngắm, nổ súng liền mấy phát, bắn tan hai vỏ chai rượu đặt cách xa 50m. Hoàng Sâm bắn tiếp mục tiêu di động cách xa 25m, ông giơ súng quay người từ trái sang phải, hai súng nổ đồng thanh, cả hai viên đạn chụm vào điểm đen ở giữa. Lỳ Síu thấy vậy vội quỳ gối, chắp hai bàn tay, miệng run run “Bái phục đại ca! Bái phục đại ca!”.
Tiếp theo là thi uống rượu, Hoàng Sâm không uống rượu bằng miệng mà bằng mũi, uống hết cả một cốc, không còn sót giọt nào. Lý Xìu cùng các toán trưởng Voòng A Sáng, Chín Thầu, Lý Khoày phục sát đất. Sau đó Hoàng Sâm và Lê Quảng Ba kêu bọn phỉ đấu kiếm, chúng sợ hãi, liền xin thôi. Lý Xìu xin được kết nghĩa cùng Hoàng Sâm là anh em. Hoàng Sâm hơn hai tuổi làm anh. Tại cuộc kết nghĩa, Lý Xìu và bọn đàn em hứa không đi cướp bóc, gây hại nhân dân, chăm chỉ làm nương rẫy.
Hoàng Sâm đã cưỡi ngựa vào tận sào huyệt của Voòng A Sáng. Nghe tiếng Hoàng Sâm đã lâu, nay mới “hội ngộ” , lại thấy Hoàng Sâm “đồng họ”. Từ Hoàng phát âm theo tiếng Quảng Đông là Voòng, Hoàng Sâm là Voòng Sám, tên trùm phỉ hết sức kính trọng, mở tiệc chiêu đãi. Trong bữa tiệc, Voòng A Sáng mời Hoàng Sâm uống rượu nhắm với “não hầu” (óc khỉ sống) và đề nghị kết nghĩa huynh đệ. Những tài năng đặc biệt của Hoàng Sâm đã quy phục được bọn cướp, hạn chế được sự phá phách, cướp bóc của chúng. Nhân dân vùng biên giới nghe kể chuyên thêm tin vào Việt Minh.
Thiếu tướng Hoàng Sâm (thứ hai bên phải) ở Đại hội Đảng III.

 
So tài bắn súng với Tạ Đình Đề 

Tại chiến khu Việt Bắc, đồng bào các dân tộc nơi đây xem thiếu tướng Hoàng Sâm như một huyền thoại. Người dân nói ông cưỡi ngựa rất giỏi, không thua kém bất cứ người dân tộc nào và có tài bắn súng hai tay bách phát, bách trúng. Lưu truyền câu chuyện về Tạ Đình Đề, người tốt nghiệp xuất sắc trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Ông là người nổi tiếng bắn súng giỏi, có thể bắn tắt điếu thuốc lá trên vành môi người đứng xa 20m.
Một hôm ở Liên khu III, thiếu tướng Hoàng Sâm vui vẻ vì vừa nhận một số súng mới và muốn thử súng. Nhân dịp Tạ Đình Đề, đội trưởng Đội Biệt động Liên khu III đang có mặt, Hoàng Sâm đã đề nghị Tạ Đình Đề thi bắn súng. Trọng tài là rất nhiều các cán bộ quân sự ở Liên khu III, những người bạn chiến đấu của ông. Mục tiêu là chùm sung rừng cách xa 20m, mỗi người bắn 3 viên. Thiếu tướng Hoàng Sâm và Tạ Đình Đề đã có màn phân tài cao thấp thú vị, những quả sung rừng đã rớt khi những tiếng súng vang lên và người chiến thắng là Hoàng Sâm.

Ký ức về người cha
    
Hoàng Sâm là một trong mười vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam khi còn rất trẻ, ở tuổi 33, nhưng ông lại lấy vợ khá muộn. Thiếu tướng Hoàng Sâm mải mê hoạt động cách mạng, mà quên chuyện riêng tư. Bà Mỹ Lệ - vợ thiếu tướng Hoàng Sâm đã có những năm tháng hạnh phúc bên chồng cho đến ngày ông qua đời.
Gia đình thiếu tướng Hoàng Sâm 

Trong cuộc đời người đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, điều nuối tiếc duy nhất, có lẽ là ông hy sinh ở tuổi 53, khi đang tràn đầy khát vọng được phục vụ cho đất nước. Thiếu tướng Hoàng Sâm hy sinh năm 1968, ở mặt trận Bình Trị Thiên. Người con trai út của ông khi đó mới 7 tuổi.  Những ký ức của các con về người cha huyền thoại không nhiều.
Thượng tá Hoàng Sùng vẫn lưu giữ ký ức về người cha - tướng Hoàng Sâm, người nổi tiếng chiều con: “Ông chiều con đến nỗi, chị em chúng tôi muốn ăn một cái kẹo, muốn mua một cái áo mới, thì đều xin bố chứ không xin mẹ. Nhưng bố tôi cũng rất nghiêm. Chị tôi đi sơ tán, học ở tận Hưng Yên, những lần bố tôi có chuyến đi công tác xuống đó, mẹ tôi xin cho chị đi nhờ, ông không bao giờ đồng ý. Ông bảo xe của công, không thể dùng vào việc riêng. Bố tôi hết công tác ở đơn vị này, lại sang công tác ở đơn vị khác. Sau này tôi đi học ở Trường Thiếu sinh quân, nên bố con cũng rất ít gặp nhau. Nhưng năm 1968, khi tôi 16 tuổi, bố tôi được lệnh vào Nam chiến đấu, tôi đã được bố cho tiễn đến Thanh Hóa. Ngày đó, khi tiễn bố, tôi đã nung nấu ý định đi theo ông để được sát cánh bên ông, bảo vệ ông. Nhưng ông kiên quyết không đồng ý, dặn tôi phải ở lại ráng học hành và chăm sóc cho mẹ. Cha con tôi chia tay trong một rừng thông ở Thanh Hóa mà chẳng ngờ rằng đó là cuộc chia ly mãi mãi”.
Một số kỷ vật của thiếu tướng Hoàng Sâm

Những ngày trước khi tướng Hoàng Sâm lên đường vào chiến trường miền Nam, vợ ông lo lắng, mất ăn, mất ngủ. Bà hỏi chồng: “Chiến trường đang ác liệt như thế, anh đi rồi nếu chẳng may không về, ai nuôi 5 đứa con nhỏ?”. Ông trả lời ngắn gọn, đầy tin tưởng: “Anh chết, thì các con đã có em, đã có Đảng, đã có Nhà nước lo. Chúng nhất định nên người”.


Tác giả Phạm Quang Ngọc

 "Bài viết có sử dụng nhiều tư liệu trên mạng internet và các bài viết, ảnh của nhiều tác giả - xin cảm ơn."

  

No comments:

Post a Comment